Gốc > Bài viết > Đội TNTP Hồ Chí Minh >
Võ Tấn Cường @ 08:34 28/09/2015
Số lượt xem: 36422
TIỂU SỬ CÁC ANH HÙNG CHI ĐỘI MANG TÊN (K6&7), NĂM HỌC 2015 - 2106
Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, người dân tộc Nùng, quê ở thôn Nà Mạ, xã Xuân Hòa (nay là Trường Hà), Hà Quảng, Cao Bằng.
Anh là một trong 5 đội viên đầu tiên của Đội nhi đồng Cứu quốc thôn Nà Mạ và cũng là tổ chức Đội đầu tiên của Đội ta được thành lập khi mặt trận Việt Minh ra đời (1941).
Trong buổi thành lập Đội, Kim Đồng được bầu làm tổ trưởng.
Kim Đồng là con trai út của một gia đình nông dân nghèo. Bố mất sớm. Anh trai tham gia cách mạng và hy sinh khi còn trẻ.
Từ năm 1940, ở quê Dền đã có phong trào cách mạng. Dền được anh trai và anh cán bộ như anh Đức Thanh giác ngộ cách mạng. Dền đã theo các anh làm các công việc: canh gác, chuyển thư từ, nghe nói chuyện về tội ác của quân giặc… nhờ đó Dền đã sớm giác ngộ cách mạng và trở thành một liên lạc viên tin cậy của tổ chức Đảng. Dền đã mau chóng làm quen với cách thức làm công tác bí mật, nhiều lần đưa, chuyển thư từ, đưa đường cho cán bộ lọt qua sự bao vây, canh gác của địch.
Năm 1941, Bác Hồ về Pắc Pó, Kim Đồng từng được gặp Bác ở căn cứ cách mạng.
Bước sang năm 1943, bọn địch khủng bố, đánh phá dữ dội vùng Pắc Pó. Trong một lần đi liên lạc về, giữa đường gặp lính địch phục kích gần nơi có cán bộ của ta, Kim Đồng đã nhanh trí nhử cho bọn địch nổ súng về phía mình. Nhờ tiếng súng báo động ấy, các đồng chí cán bộ ở gần đó tránh thoát lên rừng. Song, Kim Đồng đã bị trúng đạn và anh dũng hy sinh tại chỗ, ngay bờ suối Lê-nin.
Hôm ấy là ngày 11 tháng giêng Âm lịch năm 1943, Anh vừa tròn 14 tuổi.
Ngày nay, mộ của Kim Đồng đã được đội viên cả nước góp phần xây dựng tại nơi anh ngã xuống. Ngày 15-5-1986, nhân kỷ niệm lần thứ 45 ngày thành lập Đội, mộ của Anh và tượng người đội viên liệt sĩ anh hùng Kim Đồng đang tung con chim sáo bay lên đã được khánh thành. Từ đó đến nay nơi đây đã trở thành khu di tích Kim Đồng chào đón các thế hệ thiếu nhi Việt Nam đến nơi thành lập Đội TNTP, với người đội trưởng đầu tiên của mình, đến với quê hương cách mạng có suối Lê-nin, có núi Các Mác và hang Pắc Pó mãi mãi khắc sâu trong tâm trí của thiếu nhi Việt Nam.
-------//-------
Lớp 6.2 - Chi đội Nguyễn Bá Ngọc
NGUYỄN BÁ NGỌC
Nguyễn Bá Ngọc là học sinh lớp 4B (năm học 1964 - 1965) trường phổ thông cấp I xã Quảng Trung, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Năm 1964, giặc Mỹ vừa ồ ạt đưa quân vào miền Nam, vừa cho máy bay leo thang ra đánh phá các tỉnh miền Bắc nước ta. Chúng ném bom cả trường học và bệnh viện, Nguyễn Bá Ngọc và các bạn phải đi học trong cảnh sơ tán dưới hầm hào.
Ngày 4 tháng 4 năm 1965, máy bay giặc Mỹ đã tới ném bom, bắn phá xã Quảng Trung. Lúc ấy, người lớn đã ra đồng làm việc, trong nhà chỉ còn có trẻ em. Nghe tiếng máy bay, Ngọc đã kịp chạy xuống hầm. Và bom đã rơi xuống bên cạnh nhà Ngọc. Ở dưới hầm, Ngọc nghe thấy có tiếng khóc to bên nhà Khương, Khương là bạn của Ngọc. Không chút ngần ngừ, Ngọc nhào lên, chạy sang nhà Khương thì thấy bạn của mình đã bị thương. Các em nhỏ của Khương là Toanh, Oong, Đơ đang kêu khóc. Ngọc vội vừa bế, vừa dìu hai em Oong, Đơ xuống hầm. Ngọc bò gần tới nơi trú ẩn thì giặc lại thả bom bi và em đã bị một viên bi bắn vào lưng rất hiểm. Cứu được hai em nhỏ rồi, Ngọc mới tái mặt, lả đi. Vết thương quá nặng, Ngọc đã hy sinh vào lúc 2 giờ sáng ngày 5-4-1965 ở bệnh viện.
Noi gương quên mình cứu em nhỏ, thiếu nhi cả nước ta đã học tập và làm theo Nguyễn Bá Ngọc. Ngay năm ấy và năm sau, đã xuất hiện: Trần Thị Miên, Trần Thị Vệ (Thanh Hóa), Trần Quốc Ý (Nghệ Tĩnh)… đã liên tiếp dũng cảm cứu bạn, cứu em nhỏ trong bom đạn của địch.
------//------
Lớp 6.3 - Chi đội Nguyễn Thị Út
ANH HÙNG NGUYỄN THỊ ÚT
Nguyễn Thị Út (tức Út Tịch), sinh năm 1920, dân tộc Kinh, quê xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, tham gia cách mạng từ năm 1945. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là du kích xã Tam Ngãi.
Xuất thân là một cố nông, ngay từ nhỏ Út Tịch đã phải đi ở cho địa chủ, chịu bao cay đắng, áp bức của đế quốc và phong kiến. Khi đã lấy chồng rồi, cả hai vợ chồng vẫn phài chịu cảnh đi ở đợ cho tới ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Được giải thoát khỏi cảnh đọa đày tủi nhục, hai vợ chồng đều hết sức phấn khởi, hăng hái, tích cực tham gia hoạt động cách mạng. Từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, mặc dù sức vếu và bận con mọn, đồng chí đã xung phong vào du kích. Khi tải thương, khi đi trinh sát, khi xách súng đuổi địch, đồng chí đã trải qua nhiều công tác cùng với bộ đội tham gia hàng chục trận đánh và đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ với hiệu quả công tác và hiệu suất chiến đấu cao.
Vừa giỏi việc nước, vừa đảm việc nhà, tuy đã sáu con, Út Tịch đánh giặc vẫn rất hăng hái, có nhiều mưu mẹo tài tình, khi có thai 8 tháng, vẫn chỉ huy du kích hạ hai đồn giặc. Hai vợ chồng luôn luôn tâm đâc, cùng hỗ trợ nhau giết giặc, lập công xuất sắc.
Trong một trận địch càn vào xã, Út Tịch lúc đó mới sinh con 2 tháng, còn đang nghỉ, nhưng vừa nghe tiếng súng, liền đưa con xuống hầm, rồi xách súng đi chiến đấu. Khi giáp trận, Út Tịch nhanh như con sóc chạy hết nơi này đến nơi kia, lợi dụng địa hình nổ súng diệt địch. Trong khi đang trườn lên một bờ đê cao, do sức còn yếu, đồng chí bị trượt, ngã lăn xuống ruộng và ngất xỉu. Cũng may, lại gặp chồng ở đơn vị bộ đội tập trung dẫn quân về cùng phối hợp chống càn. Trận chiến đấu đã nhanh chóng kết thúc thắng lợi.
Một hôm, trên đường ra chợ, phát hiện thấy 1 đại đội địch đi càn, đồng chí vội chạy tắt đường về tìm đội du kích bàn kế hoạch đánh địch. Bố trí trận địa xong, Út Tịch tranh thủ chạy về cho con nhỏ bú và dắt các con lớn xuống hầm ẩn nấp an toàn rồi lại trở ra trận địa. Chờ quân địch vào gần, đồng chí cùng đồng đội nổ súng mãnh liệt, bất ngờ, buộc chúng phải tháo chạy, bỏ lại một số tên chết và bị thương.
Nhận nhiệm vụ chuẩn bị đánh đồn Bến Cát, Út Tịch tiến hành điều tra kỹ lưỡng và vạch kế hoạch lấy đồn chu đáo, tỉ mỉ. Sau khi đã tìm cách làm quen được với bọn lính trong đồn, đồng chí dụ chúng ra ăn nhậu ngoài quán cho đến lúc say, cùng lúc đó, theo ám hiệu của đồng chí, du kích xông vào lấy đồn; đoạt súng, Út Tịch cũng nhanh như cắt chĩa súng bắt toàn bộ bọn lính đang ăn uống ngoài quán phải đầu hàng.
Nguyễn Thị Út là một cán bộ phụ nữ giàu nghị lực, rất mực trung thành, kiên quyết đánh giặc, giữ nước, giữ nhà, tới mức như đồng chí nói: “Còn cái lai quần cũng đánh”. Đối với đồng đội, bà con cô bác, Út Tịch hết sức tận tình thương yêu, giúp đỡ, sẵn sàng nhường cơm sẻ áo khi hoạn nạn khó khăn, nên luôn luôn được đồng đội và nhân dân tin yêu, đùm bọc.
Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Nguyễn Thị Út được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
------//------
Lớp 6.4 - Chi đội Tô Vĩnh Diện
TÔ VĨNH DIỆN
Tô Vĩnh Diện (1924 -1953), Liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng Vũ Trang Nhân dân (Truy phong; 7/5/1955), khi hy sinh, anh là Tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37 ly thuộc Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367.Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhất
Tô Vĩnh Diện sinh trưởng trong một gia đình nghèo, ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá. Lên 8 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ. Suốt 12 năm đi ở, anh phải chịu bao cảnh áp bức bất công. Năm 1946, anh tham gia dân quân ở địa phương. Năm 1949, đồng chí xung phong đi bộ đội.
Tháng 5 năm 1953, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị đánh lớn. Tô Vĩnh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng một đơn vị pháo cao xạ. Trong quá trình hành quân cơ động trên chặng đường hơn 1000 km tới vị trí tập kết để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, anh luôn luôn gương mẫu làm mọi việc nặng nhọc, động viên giúp đỡ đồng đội kéo pháo tới đích an toàn.
Trong lúc kéo pháo qua những chặng đường khó khăn nguy hiểm, anh xung phong lái để bảo đảm an toàn cho khẩu pháo. Trong lúc kéo pháo cũng như lúc nghỉ dọc đường, Tô Vĩnh Diện luôn luôn nhắc đồng đội chuẩn bị chu đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ đường dây kéo pháo, xem xét từng đoạn đường, từng cái dốc rồi phổ biến cho anh em để tránh những nguy hiểm bất ngờ xẩy ra.
Kéo pháo vào đã gian khổ, hy sinh, kéo pháo ra càng gay go ác liệt, anh đã đi sát từng người, động viên giải thích nhiệm vụ, giúp anh em xác định quyết tâm cùng nhau khắc phục khó khăn để đảm bảo thắng lợi.
Qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối, đường hẹp và cong rất nguy hiểm. Tô Vĩnh Diện cùng đồng đội Ty xung phong lái pháo. Nửa chừng dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, anh vẫn bình tĩnh giữ càng, lái cho pháo thẳng đường. Nhưng một trong bốn dây kéo pháo lại bị đứt, pháo càng lao nhanh, anh Ty bị hất xuống suối. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Diện hô đồng đội: “Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo” và anh buông tay lái xông lên phía trước, lấy thân mình chèn vào bánh pháo, nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ pháo dừng lại.
Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của đồng chí Tô Vĩnh Diện đã cổ vũ mạnh mẽ toàn đơn vị vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.
-----//-----
Lớp 6.5 - Chi đội Trần Quốc Toản
TRẦN QUỐC TOẢN
Tháng 10 năm 1282, các vua Trần mở hội nghị Bình Than để bàn kế chống quân Nguyên. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép:Vua thấy Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Hoài Nhân Vương Kiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn. Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẫn kích, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết. Sau đó Quốc Toản lui về, huy động hơn nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ:"Phá cường địch, báo hoàng ân" (phá giặc mạnh, báo ơn vua). Sau này, khi đối trận với giặc, tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám đối địch.[2]Đến khi mất, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước vương.
Tháng 4 năm 1285, vua Trần Nhân Tông sai Chiêu Thành vương, Hoài Văn hầu Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái đem tiệp binh đón đánh quân Nguyên ở bến Tây Kết.
Ngày 10 tháng 5 năm đó có người về báo cho hai vua Trần là thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp cùng em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh bại quân giặc ở các xứ Kinh Thành, Chương Dương. Quân giặc tan vỡ lớn... Thoát Hoan, Bình chương A Lạt rút chạy qua sông Lô.
Trong các sử sách của Việt Nam như Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Việt sử Tiêu án và các quyển sử soạn gần đây như Việt sử tân biên của Phạm Văn Sơn, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Trần Hưng Đạo của Hoàng Thúc Trâm đều không thấy đề cập đến cái chết của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản. Chỉ có ĐVSKTT bản kỷ quyển V có viết: "... Đến khi mất, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước Vương"[3]. Nhưng các quyển sử của nhà Nguyên lại có đề cập đến cái chết của ông. An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 8a10 có ghi: Quan quân đến sông Như Nguyệt, thì Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu đến đánh..[4]. "Kinh thế đại điển tự lục" trong "Nguyên văn loại" 41 tờ 27b 1-2 có viết:... Đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên sai Hoài Văn Hầu đến đuổi thì bị giết. Theo sách Việt sử kỷ yếu của Trần Xuân Sinh thì khi Ô Mã Nhi đánh vào Vân Đồn để cướp lại lương thực thì quân của Trần Quốc Toản và Trần Khánh Dư chống đỡ kịch liệt. Quốc Toản hăng hái cự địch, không may qua đời ngày 2 tháng 2 âm lịch.
----//-----
Lớp 6.6 - Chi đội Phạm Ngọc Đa
Phạm Ngọc Đa
Anh hùng Phạm Ngọc Đa, sinh 1938, ở thôn Phác Xuyên, xã Bạch Đằng, huyện Tiên Lãng, tỉnh Kiến An (nay là TP Hải Phòng), trong một gia đình lao động nghèo, cha mẹ mất sớm. Ngay từ nhỏ hai chị em Phạm Ngọc Đa đã phải đi làm thuê kiếm sống.
Do được giác ngộ cách mạng, năm 12 tuổi, Phạm Ngọc Đa được kết nạp vào hàng ngũ của Đội thiếu nhi Cứu quốc, tích cực tham gia các hoạt động yêu nước. Năm 15 tuổi, Phạm Ngọc Đa trở thành đội viên du kích, làm giao liên, trinh sát và trực tiếp tham gia chiến đấu.
Sáng 28-8-1953, quân Pháp mở chiến dịch càn quét với quy mô lớn mang tên Cờ lốt (Claude) vào huyện Tiên Lãng. Làng Phác Xuyên chìm trong lửa đạn của thực dân Pháp và ngụy quân. Du kích dũng cảm chiến đấu đến viên đạn cuối cùng mới rút vào hầm bí mật. Phạm Ngọc Đa cũng tham gia tích cực trong trận chiến đấu này.
Ngày 30-8-1953, làng Phác Xuyên lại chìm trong lửa đạn trả thù của quân Pháp và tay sai. Trước hỏa lực hùng mạnh của quân Pháp, các du kích quân buộc phải rút xuống hầm trú ẩn. Địch tràn vào làng đốt phá, lùng sục. Không may, địch lại đặt súng cối trên nóc hầm bí mật nên đất sụt xuống. Bọn địch đã nghi ngờ, đào bới, tìm ra hầm và bắt được Phạm Ngọc Đa cùng một số du kích quân khác.
Quân Pháp bắt trói Đa và tra tấn rất dã man nhằm buộc anh phải chỉ điểm các hầm bí mật còn lại. Phạm Ngọc Đa nói lớn vào mặt kẻ địch cốt để báo động cho các chiến sĩ khác đang ẩn nấp quanh khu vực đó biết: “Đúng, tao biết nhiều hầm nhưng không phải là để khai ra với chúng mày!”
Tên quan ba Pháp nổi tiếng tàn ác cầm dao chặt lìa một cánh tay của Phạm Ngọc Đa. Trong đau đớn, anh vẫn giữ khí tiết. Nhằm khủng bố tinh thần của Phạm Ngọc Đa cũng như những chiến sĩ du kích khác, quân Pháp cắt từng đoạn chân của anh cho đến chết nhưng vẫn không khai thác được gì.
Tấm gương hy sinh anh hùng của thiếu niên du kích Phạm Ngọc Đa sau này được trân trọng nhắc đến trong nhiều tài liệu giáo dục lịch sử của Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh bên cạnh những tấm gương anh hùng thiếu niên khác.
Lễ khởi công xây dựng nhà tưởng niệm anh hùng liệt sĩ Phạm Ngọc Đa
Để ghi nhớ công lao và sự hy sinh anh dũng của người đội viên thiếu niên quả cảm, năm 1997, Phạm Ngọc Đa được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tại quê hương của Phạm Ngọc Đa (huyện Tiên Lãng) đã xây dựng một tượng đài kỷ niệm người anh hùng thiếu niên anh dũng hy sinh vì Tổ quốc.
----//----
Lớp 7.1 - Chi đội Vừ A Dính
VỪ A DÍNH
Ở tại một bản của đồng bào dân tộc Hmông trên đỉnh núi Pú Nhung Châu, Tuần Giáo, tỉnh Lai Châu, có em bé tên Vừ A Dính. Mới mười ba tuổi, Dính đã xin làm liên lạc cho dân quân, bộ đội ở địa phương để chống lại bọn giặc Pháp đến cướp phá quê hương.
Dính được giao nhiệm vụ canh gác, liên lạc, tiếp tế lương thực. Công việc nào Dính cũng làm tốt. Có lần bị giặt bắt phải khiêng lợn của dân về đồn, Dính giả vờ đánh xổng cho 1 con lợn chạy vào rừng. Dính trà trộn vào đám người bị giặt bắt để dò la tình hình nơi đóng quân của địch. Năm 1949, trong một trận càn, giặc Pháp đã bắt được Vừ A Dính trong lúc Dính đang đi công tác. Chúng lập tức tra khảo, đánh đập Dính rất đau. Suốt 3 ngày liền, giặc không moi ra được một điều gì ở người thanh niên dũng cảm này. Biết mình khó thoát, Dính đã không khai mà còn đánh lừa giặc, giả vờ nhận chỉ nơi có cơ quan kháng chiến, bắt bọn giặc phải cán mình đi loanh quanh suốt ngày trong rừng. Khi biết ra là đã bị Vừ A Dính đánh lừa, lũ giặc dã man và hèn nhát đã nổi điên, bắn chết Dính.
Cùng với Lê Văn Tám ở miền Nam, trong những năm kháng chiến chống Pháp, Vừ A Dính đã trở thành liệt sĩ thiếu niên của Đội ta.
----//----
Lớp 7.2 - Chi đội Lê Văn Tám
LÊ VĂN TÁM
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp gây hấn ở Nam bộ hòng cướp lại nước ta một lần nữa.
Năm ấy, ở gần chợ Đa Kao thành phố Sài Gòn có một em bé con nhà nghèo phải đi bán lạc rang, đánh giầy để kiếm sống. Tên em là Tám.
Lê Văn Tám thường lân la tới những nơi có quân Pháp đóng để bán hàng, đánh giầy. Tám tỏ ra hiền lành, nhút nhát nên đã được bọn lính Pháp để cho đi qua, đi lại và dần dần quen mặt em. Tại Thị Nghè, có một kho xăng, đạn lớn của địch. Hình ảnh những hòm đạn, những trái bom hiện ra trong trí nhớ của Tám cùng những cảnh tàn phá, giết chóc dã man của địch đối với đồng bào ta đã thôi thúc em tính đến một việc làm táo bạo. Tám nảy ra ý định sẽ phá kho xăng đạn này.
Sau mấy hôm dò la quan sát địch. Tám giấu dầu xăng trong người, thản nhiên khoác hòm lạc rang đến bán cho lính gác như thường lệ. Lợi dụng lúc bọn địch không để ý Tám chạy nhưng bay vào chỗ để xăng và xèo diêm. Dầu xăng trong người Tám bốc cháy và bén luôn vào thùng xăng gần nhất. Thế là cả kho xăng bốc cháy đùng đùng rồi lan tới chỗ để bom đạn. Tiếng nổ ầm trời, khói lửa mịt mù cả thành phố.
Lê Văn Tám đã anh dũng hy sinh và để lại trong trí nhớ nhân dân Thành đồng Tổ quốc hình ảnh: Em bé đuốc sống của thành phố mang tên Bác của dân tộc Việt Nam.
-----//-----
Lớp 7.3 - Chi đội Mạc Thị Bưởi
MẠC THỊ BƯỞI (1927-1951)
Mạc Thị Bưởi sinh năm 1927 tại xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Trong Cách mạng tháng Tám, cô tham gia Phụ nữ Cứu quốc tại địa phương. Sau khi Pháp tái chiến Đông Dương, cô bắt đầu tham gia lực lượng du kích và là một cán bộ chính trị cơ sở, hoạt động ở địa phương, vốn nằm trong vùng kiểm soát của quân đội Pháp.
Năm 1949, quân đội Pháp xây dựng bốt (đồn)…, liên tục tổ chức càn quét ở xã Nam Tân. Vì vậy cán bộ ở xã phải sang các vùng lân cận, Mạc Thị Bưởi vẫn tiếp tục ở lại xây dựng tổ chức cho Việt Minh . Hơn thế, cô còn tổ chức các tổ nữ du kích, xây dựng cơ sở ở xã; vận động quần chúng chống nộp thuế, đi phu cho quân Pháp.
Năm 1950, quân Việt Minh tấn công đồn Thanh Dung, Mạc Thị Bưởi đã thực hiện việc trinh sát tiền trạm, tạo cơ sở để trận đánh thành công. Quân đội Pháp nhiều lần treo giải thưởng để bắt Mạc Thị Bưởi, nhưng đều không thành công. Năm 1951, cô làm nhiệm vụ vận động nhân dân vùng tạm chiếm chuẩn bị g ạo s ữa chuyển ra vùng tự do phục vụ chiến dịch Trần Hưng Đạo, đánh đường 18. Trong một chuyến vận chuyển đó, bà bị quân Pháp phục kích bắt được và tra tấn tàn bạo. Cô kiên quyết không khai một lời và bị giết vào ngày 23 tháng 4 năm 1951, khi đó cô mới 24 tuổi.
Ngày 31- 8-1955, Mạc Thị Bưởi được nhà nươc truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương quân công hạng2
----//----
Lớp 7.4 - Chi đội Nguyễn Văn Trỗi
NGUYỄN VĂN TRỖI
Nguyễn Văn Trỗi, sinh năm 1940, quê ở xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nhập ngũ ngày 17 tháng 2 năm 1964. Khi hy sinh đồng chí là chiến sĩ biệt động thành phố Sài Gòn, đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
Nguyễn Văn Trỗi là công nhân thợ điện Sài Gòn. Sống giữa xã hội bất công thối nát của Mỹ - ngụy, hàng ngày chứng kiến những hành động tội ác của bọn tay sai bán nước và bộ mặt đểu cáng của giặc Mỹ xâm lược, anh nung nấu mối căm thù chúng. Nguyễn Văn Trỗi đã tìm đến cách mạng và được giáo dục giác ngộ. Sau đó anh tình nguyện gia nhập đội biệt động 65, Quân khu Sài Gòn - Gia Định.
Là một thanh niên giàu lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng, một chiến sĩ vũ trang gan dạ, Nguyễn Văn Trỗi luôn hăng hái thực hiện mọi công tác của đội biệt động giao cho, vừa hoạt động, vừa tích cực vận động giác ngộ bạn bè tham gia công tác cách mạng.
Tháng 5 năm 1964, Nguyễn Văn Trỗi được tổ chức giao nhiệm vụ giết tên Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Mác-na-ma-ra, một tên trùm tội ác chiến tranh. Đây là trận đánh mang ý nghĩa chính trị rất lớn. Lợi dụng thế hợp pháp là công nhân, vừa đi làm Nguyễn Văn Trỗi vừa nghiên cứu quy luật đi về của tên bộ trưởng chiến tranh Mỹ, suy nghĩ tím cách đánh phù hợp nhất. Theo kế hoạch chỉ đạo của trên, ngày 9 tháng 5 năm 1964, đồng chỉ thực hiện trận đánh bằng cách dùng mìn điểm hỏa bằng điện đặt ở cầu Công Lý, đón tên Mác-na-ma-ra trên đường đi ra sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng trận đánh chưa thực hiện được thì bị lộ và anh bị bắt.
Địch giam Nguyễn Văn Trỗi ở khám Chí Hòa và mọi thủ đoạn từ dụ dỗ đến tra tấn dã man vẫn không khuất phục được anh. Trong những ngày bị giam cầm Nguyễn Vàn Trỗi đã đấu tranh quyết liệt với địch bâng mọi lý lẽ và ý chí bất khuất, khiến bọn chúng tức tối và kính nể. Khí phách anh hùng của anh đã cổ vũ anh em trong tù tăng thêm nghị lực đấu tranh.
Sau 4 tháng giam giữ không làm chuyển được tấm lòng kiên trinh của Nguyên Văn Trỗi, chính quyền Nguyễn Khánh đã kết án tử hình anh. Trong những ngày còn lại của đời mình, Nguyễn Văn Trỗi vẫn lạc quan, tin tưởng và tiếp tục đấu tranh với địch. Ngày 15 tháng 10 năm 1964, chứng đã hèn hạ giết Nguyễn Văn Trỗi.
9 phút cuối cùng ở pháp trường, Nguyễn Văn Trỗi đã hiên ngang vạch tội quân bán nước và cướp nước, khẳng định việc làm chính đáng của mình, khẳng định cách mạng Việt Nam nhất định thắng lợi. Đồng chí dõng dạc hô to 3 lần: “Hồ Chí Minh muôn năm.” Khi bị trúng đạn ngã xuống Nguyễn Văn Trỗi cố gượng dậy hô: Việt Nam muôn năm!
Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi đã làm xúc động dư luận trong nước và thế giới. Trong phiên họp bất thường ngày 17 tháng 10 năm 1964, Chủ tịch đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam quyết định tặng danh hiệu Anh hùng và Huân chương Thành đồng hạng nhất cho liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi.
----//----
Lớp 7.5 - Chi đội Nguyễn Viết Xuân
NGUYỄN VIẾT XUÂN
Nguyễn Viết Xuân xuất thân trong một gia đình nghèo ở xã Ngũ Kiên huyện Vĩnh Tường( Vĩnh Phúc). Lên 7 tuổi, anh phải đi ở bế em cho một người bà con xa để kiếm ăn.đọan đời này kéo dài 10 năm. Vừa tròn 18 tuổi, từ vùng tạm chiếm anh vượt ra vùng giải phóng xin đi bộ đội.năm 1952, anh trở thành người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam và được bổ sung về 1 trung đòan pháo cao xạ.
Trong chiến dịch điện biên phủ, đơn vị Nguyễn Viết Xuân đã bắn rơi hang chục máy bay giặc Pháp. Trong một trận đánh hàng đàn máy bay bổ nhào xuống trận địa.bom rơi như sung, Nguyễn khắc Vỹ người chỉ huy đơn vị anh vẫn hiên ngang đứng trên hầm pháo chỉ huy các khẩu pháo đánh trả giặc bằng tiếng hô dõng dạc:” nhằm thẳng vào máy bay bổ nhào, bắn!”. nhưng rồi Nguyễn Khắc Vỹ đã hy sinh oanh liệt, để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng Nguyễn Viết Xuân . Noi gương người đảng viên ưu tú, anh luôn phấn đấu và được kết nạp vào Đảng lao động Việt Nam. Anh trở thành chính trị viên phó đại đội rồi chính trị viên đại đội.
Năm 1964, thiếu úy Nguyễn Viết Xuân đưa đơn vị pháo cao xạ của mình lên đón ở miền tây Quảng Bình, bảo vệ vùng trời miền Bắc phía tây Quảng Bình. Các chiến sĩ đã dũng cảm hiên ngang bên khẩu pháo bắn trả máy bay địch bên tiếng hô vang của chính trị viên” nhằm thẳng quân thù , bắn”.hai máy bay phản lực F 100 bị tan xác.
Lần thứ tư , nghe tiếng máy bay địch anh vội chạy về sở chỉ huy để truyền lệnh chiến đấu cho đơn vị . Không may, Nguyễn Viết Xuân bị một viên đạn vào đùi. Anh ngã nhào trong hầm. một chân bị dập nát, anh nghiến răng không kêu một tiếng và ra hiệu im lặng không cho loan báo tin tức đến đồng đội. y tá đến băng, anh gạt ra và yêu cầu cắt chân cho mình để khỏi vướng. anh nói: “ cứ cắt đi… và dấu cái chân vào chỗ kín hộ tôi.” Cắt xong chân, Nguyễn Viết Xuân bảo đưa khăn cho mình ngậm vào miệng. Xúc động, người y tá vụt đứng dậy thét vang:” tất cả các đồng chí bắn mạnh lên trả thù cho chính trị viên”. Các khẩu pháo nhất lọai rung lên tạo thành lưới lửa quất vỗ mặt quân thù khi chúng vừa lao xuống. một chiếc F100 nữa đâm đầu xuống núi. Cả bọn cút thẳng về hướng đông. Khi bầu trời trở lại xanh trong, tất cả chiến sĩ ùa lại bên người chính trị viên, khiêng anh vào bệnh viện, nhưng không kịp, Nguyễn Viết Xuân đã hy sinh.
“ Nhằm thẳng quân thù . bắn!” khẩu lệnh của anh hung liệt sĩ Nguyễn Viết Xuân đã trở thành bất diệt. khẩu lệnh tấn công ấy đã từng làm bạt vía kinh hồn lũ giặc lái Mỹ xâm phạmbầu trời miền Bắc của Tổ quốc thân yêu.
----//----
Lớp 7.6 - Chi đội Phan Dinh Giot
PHAN ĐÌNH GIÓT
Anh hùng Liệt sĩ Phan Đình Giót (1922-13/3/1954), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (truy phong; 31/3/1955), Khi hy sinh anh là Tiểu đội phó bộ binh Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Huân chương Quân công hạng Nhì.
Anh sinh nǎm 1922 ở làng Tam Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình rất nghèo. Bố bị chết đói. Anh phải đi ở từ năm 13 tuổi cực nhọc, vất vả. Cách mạng tháng Tám thành công, anh tham gia tự vệ chiến đấu, đến năm 1950, anh xung phong đi bộ đội chủ lực. Trong cuộc sống tập thể quân đội, Phan Đình Giót luôn tự giác gương mẫu về mọi mặt, hết lòng thương yêu giúp đỡ đồng đội, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn nên được đồng đội mến phục. Phan Đình Giót tham gia nhiều chiến dịch lớn như: Trung Du, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên Phủ.
Mùa đông năm 1953, đơn vị anh được lệnh tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Hành quân gần 500 km, vượt qua nhiều đèo dốc, mang vác nặng nhưng đồng chí vẫn kiên trì, giúp đồng đội về tới đích. Trong nhiệm vụ xẻ núi, mở đường, kéo pháo lên đèo xuống dốc vào trận địa rất gay go gian khổ, anh đã nêu cao tinh thần gương mẫu, bền bỉ và động viên anh em kiên quyết chấp hành nghiêm mệnh lệnh của cấp trên.
Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, quân ta nổ súng tiêu diệt Him Lam. Cả trận địa rung chuyển mù mịt sau nhiều loạt pháo ta bắn chuẩn bị.
Các chiến sỹ đại đội 58 lao lên mở đường, đã liên tiếp đánh đến quả bộc phá thứ tám. Phan Đình Giót đánh quả thứ chín thì bị thương vào đùi nhưng vẫn xung phong đánh tiếp quả thứ mười. Quân Pháp tập trung hoả lực trút đạn như mưa xuống trận địa ta. Đồng đội bị thương vong nhiều.
Lửa căm thù bốc cao, anh lao lên đánh liên tiếp hai quả nữa phá toang hàng rào cuối cùng, mở thông đường để đồng đội lên đánh sập lô cốt đầu cầu. Lợi dụng thời cơ địch đang hoang mang, Phan Đình Giót vọt lên bám chắc lô cốt số 2, ném thủ pháo, bắn kiềm chế cho đơn vị tiến lên. Anh lại bị thương vào vai, máu chẩy đầm đìa. Nhưng bất ngờ từ hoả điểm lô cốt số 3 của lính Pháp bắn rất mạnh vào đội hình ta. Lực lượng xung kích bị ùn lại, Phan Đình Giót cố gắng lê lên nhích dần đến gần lô cốt số 3 với ý nghĩ cháy bỏng, duy nhất là dập tắt ngay lô cốt này. Anh đã dùng hết sức mình còn lại nâng tiểu liên lên bắn mạnh vào lỗ châu mai, miệng hô to:
"Quyết hy sinh…vì Đảng…vì dân!!.." rồi rướn người lấy đà, lao cả thân mình vào bịt kín lỗ châu mai địch. Hoả điểm lợi hại nhất của quân Pháp đã bị dập tắt, toàn đơn vị ào ạt xông lên như vũ bão, tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam, giành thắng lợi trong trận đánh mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi hy sinh, Phan Đình Giót đã được Tiểu đoàn, Đại đoàn khen thưởng 4 lần.
----//----
Lớp 7.7 - Chi đội Kpa - Kơ - Lơng
ANH HÙNG KPA-KƠ-LƠNG
Kpa-Kơ-Lơng, sinh năm 1948, dân tộc Gia Rai, quê ở xã I-a Pia, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, nhập ngũ tháng 3 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đội phó trinh sát quận 5, Gia Lai, Quân khu 5.
Sống trong một gia đình nông dân nghèo, cha mất sớm, hai anh bị giặc đánh đập tàn phế, Kpa-Kơ-Lơng sẵn có lòng căm thù sâu sác giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Năm 15 tuổi, đồng chí vào du kích. Trong quá trình hiến đấu, đồng chí đã cùng đội du kích đánh địch 32 trận, tự tay diệt 124 tên giặc (trong đó có 6 tên Mỹ), phá hủy 7 xe quân sự, 25 lần tham gia phá đường giao thông, phá ấp chiến lược, khi vào bộ đội chiến đấu 7 trận, cùng đơn vị diệt 18 tên giặc, 1 xe M.113, thu 4 súng.
Khi còn ít tuổi chưa được chấp nhận vào du kích, Kpa-Kơ-Lơng một mình tự động vót chông, đào hầm, làm cạm bẫy, dùng ná, tên thường và tên thuốc dộc diệt 8 tên giặc. Năm 15 tuổi khi được vào du kích, nhiều lần đồng chi xin nhận vũ khí, tự chọn lấy trận địa, kiên trì phục kích, bám địch diệt 32 tên, bắn bị thương 22 tên, phá hủy 1 xe, thu nhiều vũ khí mang về trang bị cho du kích. Thành tích đánh xe của đồng chí đả thúc đẩy mạnh mẽ phong trào du kích diệt xe địch trong vùng.
Kpa-Kơ-Lơng là một chiến sĩ trinh sát gan dạ, đánh mìn giỏi, bắn súng tài, phục vụ chiến đấu tốt, là một trong những người đạt thành tích diệt nhiều địch nhất trên chiến trường Tây Nguyên.
Trong trận phục kích 1 trung đội địch trên đường dinh điền Lệ Ngọc, bọn địch phát hiện trận địa của ta trước. Thấy nguy hiểm, đồng chí nhanh chóng giật mìn, diệt một số tên. Khi đơn vị rời khỏi trận địa, đồng chí rút sau và bị thương nên phải dừng lại trên đường. Bọn giặc hò hét, kêu nhau lần vết máu đuổi theo. Mặc cho vết thương đau nhói, Kpa-Kơ-Lơng bình tĩnh ném một quả lựu đạn diệt 3 tên đi đầu. rồi bần liên tiếp vào đội hình chúng. Bọn địch thấy bắn rát liền hốt hoảng rút lui. Đồng chí tự băng bó vết thương rồi trở về căn cứ.
Trong các trận chống càn, đồng chí dũng cảm bám sát địch. Có lần, với 3 viên đạn còn lại, Kpa-Kơ-Lơng bám riết địch từ sáng đến chiều, đứng núp cách 5 mét, chờ chúng tập hợp hàng dọc mới bắn diệt 7 tên, làm bị thương 1, rồi băng rừng chạy về phía sau. Một lần khác, khi đang làm nhiệm vụ canh gác trên rẫy thì phát hiện địch kéo vào, Kpa-Kơ-Lơng mưu trí tìm vị trí có lợi bắn 2 phát diệt 4 tên, bọn còn lại hoảng hốt tháo chạy.
Kpa-Kơ-Lơng quyết tâm diệt Mỹ khi chúng vừa đặt chân lên chiến trường Tây Nguyên. Biết bọn Mỹ khi chiến đấu thường hay chiếm điểm cao, đồng chí bố trí nìn trên đường, rồi chiếm điểm cao trước nằm phục vích. Bọn địch từ Plây Me hành quân bị trúng mìn, chết một số tên. Một tốp xách súng chạy lên điểm cao bị đồng chí ném lựu đạn, diệt 4 tên.
Tháng 3 năm 1965, Kpa-Kơ-Lơng vào bộ đội huyện làm trinh sát; trong điều kiện ác liệt của chiến trường Plây Me, đồng chí dũng cảm, không ngại khó khăn, nguy hiểm, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Một lần trên đường đi công tác, thấy đơn vị bạn đang đánh địch, đồng chí chủ động ghép mình vào đơn vị bạn chiến đấu, tự tay diệt 2 tên Mỹ và 2 tên ngụy. Đến nơi làm nhiệm vụ lại gặp quân Mỹ đi càn, Kpa-Kơ-Lơng cùng du kích địa phương tổ chức đánh mìn, phá hủy 1 xe địch trên đường số 19.
Tháng 5 năm 1966, địch càn vào khu căn cứ, đồng chí cùng tổ trinh sát vừa bám địch, vừa chiến đấu tiêu diệt 5 tên ngụy và 1 tên Mỹ.
Kpa-Kơ-Lơng là một chiến sĩ trẻ luôn luôn xông xáo, gương mẫu trong mọi công tác, vui vẻ nhận khó khăn về mình, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ cán bộ, đồng đội, nhân dân. Đoàn kết, tận tình giúp đỡ nhau, đồng chí được đồng đội yêu mến. Mấy năm liền, đồng chí được bầu là Chiến sĩ thi đua ở cơ sở, là Chiến sĩ thi đua miền Trung Trung Bộ, được thưởng 3 bằng khen và giấy khen, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.
Ngày 17 tháng 9 năm 1967, Kpa-Kơ-Lơng được Ủy ban trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.
----//----
Võ Tấn Cường @ 08:34 28/09/2015
Số lượt xem: 36422
Số lượt thích:
0 người
 
- KẾ HOẠCH NHỎ ĐỢT I, NĂM HỌC 2015 - 2016 (27/09/15)
- TIỂU SỬ ANH HÙNG CHI ĐỘI MANG TÊN (K8&9), NĂM HỌC 2015 - 2016 (27/09/15)
- Tham gia chúc mừng ĐH Đảng Bộ xã An Hải. (07/06/15)
- Tham gia Hội thi kể chuyện Bác Hồ cấp huyện (07/06/15)
- HỘI THI "RUNG CHUÔNG VÀNG" CẤP TRƯỜNG LẦN THỨ I - NĂM HỌC 2014 - 2015 (15/04/15)
Các ý kiến mới nhất